Đòn bẩy tài chính là gì? Sử dụng thế nào cho hiệu quả?

MỤC LỤC
    Add a header to begin generating the table of contents

    Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ “đòn bẩy” được sử dụng khá thường xuyên. Doanh nghiệp thường sử dụng đòn bẩy tài chính để tạo ra tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoạt động lớn hơn.

    Tuy nhiên, sử dụng đòn bẩy tài chính không phải là một sự đảm bảo chắc chắn cho thành công bởi…

    …khả năng xuất hiện các khoản lỗ cũng tăng lên nếu như doanh nghiệp ở vào một vị thế có tỷ lệ đòn bẩy nợ cao nhưng lại không hoạt động hiệu quả, hay quản trị nợ vay không tốt.

    Đòn bẩy tài chính là gì?

    Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần thường (EPS).

    Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở chỉ tiêu Hệ số nợ:

    Don-bay-tai-chinh-He-so-no

    Doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính ở mức độ cao và ngược lại.

    Vì sao doanh nghiệp lại sử dụng đòn bẩy tài chính?

    Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường sử dụng nợ vay, một mặt là nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn kinh doanh, một mặt nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc thu nhập trên một cổ phần (EPS).

    Chưa kể, khoản tiền lãi vay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Giúp số tiền thuế TNDN phải nộp ít đi, làm gia tăng lợi nhuận. Đây được xem như là “Lá chắn thuế”.

    Tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy tài chính không phải lúc nào cũng mang lại kết quả tích cực cho chủ sở hữu doanh nghiệp (cổ đông). Nó có thể gây ra tác động tiêu cực cho doanh nghiệp nếu như không được sử dụng 1 cách có hiệu quả.

    Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập một cổ phần EPS

    Chúng ta sẽ xem xét ví dụ sau:

    1 doanh nghiệp có kế hoạch sản xuất kinh doanh cho năm 2020 như sau:

    (i) Về doanh thu – lợi nhuận:

    • Kịch bản tốt: mức lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) có thể đạt 4,000 triệu đồng;
    • Kịch bản bình thường: mức lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) đạt 3,000 triệu đồng;
    • Kịch bản xấu: mức EBIT chỉ đạt 2,000 triệu đồng.

    (ii) Về phương án tài trợ vốn cho hoạt động SXKD:

    Để thực hiện kế hoạch trên, dự kiến tổng vốn cho hoạt động kinh doanh là 20,000 triệu đồng.

    Doanh nghiệp hiện có 3 phương án huy động vốn:

    • Phương án #1: Tài trợ 100% bằng vốn cổ phần thường. Khi đó, doanh nghiệp sẽ phát hành 2,000,000 cổ phần phổ thông.
    • Phương án #2: Tài trợ 50% bằng vốn cổ phần thường, 50% bằng nợ vay. Doanh nghiệp sẽ phát hành 1,000,000 cổ phần thường và vay nợ 10,000 triệu đồng với lãi suất 15%/ năm.
    • Phương án #3: Tài trợ 40% bằng vốn cổ phần thường, 60% bằng nợ vay. Doanh nghiệp sẽ phát hành 800,000 cổ phần thường và vay nợ 12,000 triệu đồng với lãi suất 15%/ năm.

    Có thể thấy, với phương án #1, doanh nghiệp huy động vốn mà không sử dụng đòn bẩy tài chính; còn phương án #2 và #3, doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính.

    Tác động của đòn bẩy tài chính đến tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập một cổ phần (EPS) của doanh nghiệp được thể hiện thông qua bảng tính sau đây:

    Đvt: Triệu đồng

    Tốt

    Bình thường

    Xấu

    Vốn kinh doanh (Tổng tài sản)

    20,000

    20,000

    20,000

    Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)

    4,000

    3,000

    2,000

    Phương án #1: Không vay nợ

    Nợ vay

              –

                      –

              –

    Vốn chủ sở hữu

      20,000

             20,000

      20,000

    Lãi tiền vay

              –

                      –

              –

    Lợi nhuận trước thuế

        4,000

               3,000

        2,000

    Thuế TNDN (t = 20%)

           800

                   600

           400

    Lợi nhuận sau thuế

        3,200

               2,400

        1,600

    Tỷ suất lợi nhuận ROE

    16.0%

    12.0%

    8.0%

    Thu nhập 1 cổ phần thường (EPS)

        1,600

               1,200

           800

    Phương án #2: 50% nợ vay

    Nợ vay

      10,000

             10,000

      10,000

    Vốn chủ sở hữu

      10,000

             10,000

      10,000

    Lãi tiền vay (r = 15%)

        1,500

               1,500

        1,500

    Lợi nhuận trước thuế

        2,500

               1,500

           500

    Thuế TNDN (t = 20%)

    500

    300

    100

    Lợi nhuận sau thuế

        2,000

               1,200

           400

    Tỷ suất lợi nhuận ROE

    20.0%

    12.0%

    4.0%

    Thu nhập 1 cổ phần thường (EPS)

        2,000

               1,200

           400

    Phương án #3: 60% nợ vay
    Nợ vay

      12,000

             12,000

      12,000

    Vốn chủ sở hữu

        8,000

               8,000

        8,000

    Lãi tiền vay (r = 15%)

        1,800

               1,800

        1,800

    Lợi nhuận trước thuế

        2,200

               1,200

           200

    Thuế TNDN (t = 20%)

           440

                   240

             40

    Lợi nhuận sau thuế

        1,760

                   960

           160

    Tỷ suất lợi nhuận ROE

    22.0%

    12.0%

    2.0%

    Thu nhập 1 cổ phần thường (EPS)

        2,200

               1,200

           200

    Qua bảng trên chúng ta có thể thấy:

    • Kịch bản Bình thường: Việc sử dụng đòn bẩy tài chính không làm gia tăng ROE hay EPS mặc dù cả 2 trường hợp: Không vay nợ và Có vay nợ đều có mức lợi nhuận trước lãi vay và thuế là giống nhau.
    • Kịch bản Tốt: Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm cho ROE và EPS của doanh nghiệp cao hơn nhiều so với trường hợp không vay nợ. Và doanh nghiệp càng vay nợ nhiều, thì ROE và EPS càng cao.

    Nhưng ngược lại…

    • Kịch bản Xấu: Việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho ROE và EPS sụt giảm mạnh hơn. Doanh nghiệp vay nợ càng nhiều, thì mức độ “tiêu cực” càng lớn.

    Vậy làm thế nào để biết được doanh nghiệp có đang sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hay không???

    Để có thể trả lời được câu hỏi trên…

    Trước tiên, chúng ta sẽ cần phải tính toán thêm 1 chỉ tiêu tài chính quan trọng, đó chính là: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE).

    Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE)

    ROCE – Return on Capital Employed: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh hay còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh.

    Đây là 1 chỉ tiêu tài chính phản ánh khả năng sinh lời của tài sản (vốn kinh doanh) mà không xét đến ảnh hưởng của nguồn gốc vốn kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Don-bay-tai-chinh-ROCE

    *(1) Giả định: Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp chỉ sử dụng Vốn vay (Debt) và Vốn chủ sở hữu (Equity).

    Chỉ tiêu này có vai trò rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi suất vay nợ để đánh giá việc sử dụng nợ vay có tác động tích cực hay tiêu cực đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu hay không?

    Mối quan hệ giữa Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE) với Đòn bẩy tài chính

    Như đã trình bày ở trên…

    1 trong những lợi ích của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là giúp doanh nghiệp có thể gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần thường (EPS).

    Do đó, chúng ta cần biến đổi công thức tính tỷ suất lợi nhuận ROE như sau:

    Don-bay-tai-chinh-ROCE

    Trong đó:

    • EBIT: Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
    • ROCE: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh
    • D: Nợ vay bình quân (Debt)
    • E: Vốn chủ sở hữu bình quân (Equity)
    • I: Chi phí lãi vay
    • r: Lãi suất vay nợ
    • t: Thuế suất thuế TNDN

    Từ công thức trên, ta thấy rằng tỷ suất lợi nhuận ROE sẽ phụ thuộc vào 3 yếu tố là: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE); Lãi suất vay nợ (r); và, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E).

    Và xét trong điều kiện các khoản vay có cùng lãi suất (cùng r), thì khi đó, ROE sẽ chỉ phụ thuộc vào ROCE và D/E.

    Trường hợp #1: ROCE > r

    Ở trường hợp này, khi đó:

    Don-bay-tai-chinh-ROCE-1

    Mặt khác:         Vốn kinh doanh = Nợ vay (D) + Vốn chủ sở hữu (E)

    …nên Nợ vay càng tăng, đồng nghĩa với Vốn chủ sở hữu càng giảm –> tỷ lệ D/E càng lớn hơn 1

    Nhờ 2 yếu tố này, tỷ suất lợi nhuận ROE sẽ càng cao khi nợ vay càng lớn.

    (*) Tuy nhiên, việc doanh nghiệp sử dụng vốn vay sẽ làm nảy sinh nghĩa vụ tài chính phải thanh toán lãi vay cho các chủ nợ bất kể doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) là bao nhiêu; đồng thời doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả vốn gốc cho các chủ nợ đúng hạn.

    Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay thì nguy cơ mất khả năng thanh toán càng lớn.

    Do đó, việc sử dụng nợ vay cũng tiềm ẩn rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh.

    Trường hợp #2: ROCE = r

    Khi đó,                                     ROE = ROCE x (1 – t)

    Lúc này, doanh nghiệp có sử dụng nợ vay hay không, cơ cấu nguồn vốn như thế nào… thì cũng không làm ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận ROE của doanh nghiệp.

    Trường hợp #3: ROCE < r

    Trái ngược với Trường hợp #1, thì tỷ lệ:

    Don-bay-tai-chinh-ROCE-2

    Điều này đồng nghĩa với việc, tỷ suất lợi nhuận ROE càng giảm khi nợ vay càng lớn.

    Và nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì cổ đông sẽ phải gánh chịu sự thua lỗ nặng nề hơn so với trường hợp doanh nghiệp không sử dụng nợ vay.

    Áp dụng vào ví dụ trên, ta thấy:

    • Kịch bản Tốt: ROCE = 4,000 / 20,000 = 20% > (r = 15%).

    Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm gia tăng ROE và EPS của doanh nghiệp.

    • Kịch bản Bình thường: ROCE = 3,000 / 20,000 = 15% = r.

    Việc sử dụng đòn bẩy tài chính không làm gia tăng ROE và EPS.

    • Kịch bản Xấu: ROCE = 2,000 / 20,000 = 10% < (r = 15%).

    Việc sử dụng đòn bẩy tài chính khiến cho ROE và EPS sụt giảm nhanh hơn so với trường hợp doanh nghiệp không sử dụng nợ vay.

    Bottom lines: Doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính như thế nào là hiệu quả?

    Như vậy, chỉ với cách làm đơn giản là so sánh Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE) với Lãi suất vay nợ (r)…

    …chúng ta đã có thể đánh giá được việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có hợp lý hay không?

    Có 3 trường hợp xảy ra:

    Trường hợp #1: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE) > Lãi suất vay (r)

    Nếu ROCE > r thì doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay thì càng gia tăng nhanh được tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập 1 cổ phần EPS.

    Ở trường hợp này, đòn bẩy tài chính sẽ khuyếch đại làm tăng tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập 1 cổ phần EPS.

    Tuy nhiên, việc tăng sử dụng nợ vay sẽ tiềm ẩn rủi ro tài chính lớn đối với doanh nghiệp.

    Trường hợp #2: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE) < Lãi suất vay (r)

    Nếu ROCE < r thì doanh nghiệp càng sử dụng nợ vay thì sẽ càng làm suy giảm tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập 1 cổ phần EPS.

    Trong trường hợp này, đòn bẩy tài chính sẽ khuyếch đại làm giảm tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập 1 cổ phần EPS, đồng thời làm tăng rủi ro tài chính cho doanh nghiệp.

    Trường hợp #3: Tỷ suất sinh lời kinh tế trên vốn kinh doanh (ROCE) = Lãi suất vay (r)

    Nếu ROCE = r thì tỷ suất lợi nhuận ROE và thu nhập 1 cổ phần EPS trong các tình huống: không sử dụng nợ vay, sử dụng nhiều nợ vay hay sử dụng ít nợ vay…

    …đều như nhau và sự khác nhau duy nhất ở đây đó là mức độ rủi ro tài chính của mỗi tình huống mà thôi!

    Cũng chính từ mối quan hệ này mà đòn bẩy tài chính được ví như là “con dao hai lưỡi”.

    Còn với nhà đầu tư thì sao? Bạn cũng có thể dùng đòn bẩy đầu tư, thay vì mua cổ phiếu bạn cũng có thể mua Chứng quyền có bảo đảm

    ————

    Những câu hỏi thường gặp về Đòn bẩy tài chính

    #1. Đối với 1 doanh nghiệp thì vay bao nhiêu thì đủ? Liệu có công thức cho câu hỏi này không?

    Không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi trên. Sử dụng đòn bẩy tài chính (vay nợ) luôn là con dao 2 lưỡi. Và mọi DN đều phải cân đo đong đếm khi muốn sử dụng đòn bẩy tài chính.

    #2. Nhóm ngành nào mình sẽ có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính cao và nhóm ngành nào không thể?

    Đòn bẩy tài chính cao luôn tương ứng với rủi ro cao đối với bất kỳ ngành nghề nào.

    Mà đã là rủi ro thì sẽ là “chấp nhận” rủi ro chứ không nên hiểu là “tận dụng”.

    Và việc “chấp nhận” rủi ro cao hay thấp thì phụ thuộc vào chiến lược & ý chí chủ quan của Ban lãnh đạo doanh nghiệp

    #3. Làm thế nào để xác định được lãi suất đi vay (r) của doanh nghiệp?

    Có thể tính ra con số tương đối lãi suất đi vay (r) dưa trên BCTC của doanh nghiệp.

    Công thức: r = Chi phí lãi vay / Dư nợ vay bình quân (x 100%)

    Những bài viết hữu ích khác:

    Chia sẻ bài viết này đến bạn bè:

    Share on facebook
    Share on twitter
    Share on linkedin

    28 thoughts on “Đòn bẩy tài chính là gì? Sử dụng thế nào cho hiệu quả?”

    Leave a Comment

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    1. Vốn kinh doanh sẽ là tổng vốn chủ và vốn vay ròng hay là tổng tài sản trong bảng cân đối kế toán hả bạn.

        1. Dạ anh ơi, cho e hỏi ý anh, chỗ nợ vay ngắn hạn + nợ vay dài hạn là lấy phần Nợ vay (mã 320 trên Bảng CĐKT) trong Nợ phải trả hay s ạ.
          Hay ý anh là lấy tổng luôn mục lớn : NỢ phải trả ạ

    2. sao mình thấy trên mạng có một số tài liệu để Vốn KD bình quân = Tổng tài sản – nợ ngắn hạn vậy GV?

      1. Ở đây mình chỉ xét đến nguồn vốn mà doanh nghiệp phải trả chi phí sử dụng, là Vốn vay và Vốn chủ sở hữu.
        Tuy nhiên, theo công thức của bạn: Vốn KD = Tổng tài sản – Nợ ngắn hạn = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn???? thế nợ ngắn hạn thì không phải vốn?

    3. Thêm 1 cách đánh giá rất hữu ích về đánh giá cấu trúc vốn. Rất cảm ơn tác giả.
      @Phuoc Nguyen: Bạn ơi, bạn bớt cmt vớ vẩn nhé. Đây không phải chỗ dành cho người não phẳng như bạn đâu. Đọc ở có hiểu gì đâu mà cũng vào cmt

      1. Cảm ơn bạn nhé,
        Tuy nhiên, cũng mong mọi người chú ý cách comment thể hiện quan điểm cá nhân nha! Nên dựa trên tinh thần góp ý cùng tiến bộ.

    4. Le Thi Nhu Quynh

      Anh Tuấn cho em hỏi mình lấy lãi suất vay nợ ở đâu trong BCTC ạ?
      Em thấy một số báo cáo, phần thuyết minh chỉ nêu khoản vay và phạm vi của lãi suất, nhưng mỗi ngân hàng lại khác nhau.
      Vậy trong trường hợp này mình xác đinh r ntn ạ? Em có thể lấy chi phí lãi vay của năm đó chia cho tổng nợ (ngắn hạn + dài hạn) được ko ạ?
      Em cảm ơn anh

      1. Lãi suất vay mình sẽ chỉ tính được 1 cách tương đối thôi e nhé.
        Và cách tính như e nói, lấy Chi phí lãi vay / Nợ vay

    5. Xin GV sửa giúp những cái hiểu nào chưa đúng dưới đây ạ:
      ROCE này chữ R là Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
      ROA, ROE, ROIC thì chữ R lại là Lợi nhuận sau lãi vay và thuế (EBIT – Lãi – Thuế)
      Chữ CE trong ROCE là Capital Employed = Vốn CSH + Nợ NH + Nợ DH = 1 bên Phải của bảng Cân đối kế toán = Tổng Tài sản = A
      Chữ IC trong ROIC là Invested Capital = Vốn CSH + Nợ NH + Nợ DH cũng bằng chữ CE trên

      1. R đều là Return (lợi nhuận) bạn nhé. Tuy nhiên, lợi nhuận ở đây là gì, thì sẽ phải xem công thức tính nhé
        Cụ thể:
        – ROCE (Return on Capital Employed) hoặc ROIC (Return on Investment Capital): Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư = EBIT / Tổng vốn đầu tư bquan (Trong đó: Vốn đầu tư = VCSH + Nợ vay ngắn hạn + Nợ vay dài hạn)
        – ROA (Return on Assets): Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = LNST / Tổng tài sản bquan
        – ROE (Return on Equity): Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH = LNST / VCSH bquan
        Đây là công thức tính mà mình thường sử dụng

    6. Nhóm ngành nào mình sẽ có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính cao và nhóm ngành nào không thể vậy ạ?

      1. Đòn bẩy tài chính cao luôn tương ứng với rủi ro cao đối với bất kỳ ngành nghề nào bạn nhé. Mà đã là rủi ro thì sẽ là “chấp nhận” rủi ro chứ không nên hiểu là “tận dụng”. Và việc “chấp nhận” rủi ro cao hay thấp thì phụ thuộc vào chiến lược & ý chí chủ quan của Ban lãnh đạo doanh nghiệp 🙂

    7. tuấn trần cho mình hỏi: đv vơi 1 dn thì vay bao nhiêu thì đủ? có công thức cho câu hỏi này ko bạn?

      1. Vấn đề này đến chính DN cũng không có câu trả lời chính xác đâu =))) Sử dụng đòn bẩy tài chính (vay nợ) luôn là con dao 2 lưỡi. Và mọi DN đều phải cân đo đong đếm khi sử dụng đòn bẩy tài chính.

    8. Hi anh, anh cho em hỏi là giả sử có 2 công ty A và B mà Net income của 2 cty này bằng nhau mặc dù công ty A không sử dụng vốn vay và công ty B có sử dụng vốn. Vậy lúc này công ty B sẽ hoạt động hiệu quả hơn phải không anh? Em cảm ơn anh.

      1. Em sẽ cần kết hợp với các chỉ số tài chính khác nhé, chứ nếu chỉ nhìn từ LNST thì không đánh giá được.

    9. Cho mình hỏi về ví dụ trong bài.
      Trong các phương án #1, #2, #3 thì Tổng TS = (Vốn CSH + Nợ) đều lấy bằng 20,000 thì mình nghĩ LNTT đều phải bằng nhau (và bằng phương án #1 là 4000) thì mới đúng chứ nhỉ.
      Tại sao lại có sự sai khác LNTT giữa các phương án ạ?

      1. – Khác nhau thứ nhất theo chiều ngang là các kịch bản (Xấu, Trung Bình, Tốt). Cùng 1 số vốn đầu tư như nhau, nhưng khi thị trường tốt, thì dn sẽ làm ăn có lãi lớn (EBIT = 4000), nhưng nếu thị trường xấu thì dn sẽ chỉ làm ra lợi nhuận EBIT 2000 thôi
        – Khác nhau thứ hai theo chiều dọc đến từ việc DN có sử dụng nợ vay hay không?

    10. Bài viết rất hay! Cảm ơn govalue đã chia sẻ kiến thức bổ ích này.
      Nhân tiện cho mình hỏi thì yếu tố r (lãi suất vay) ta có thể tìm thấy ở đâu vậy?